Lễ hội Yên Thế

8 điểm di tích quốc gia đặc biệt “Những địa điểm khởi nghĩa Yên Thế”

01/01/2026 09:36

Trên mảnh đất Yên Thế anh hùng, lịch sử dân tộc đã khắc ghi dấu ấn hào hùng của cuộc Khởi nghĩa Yên Thế – phong trào nông dân lớn nhất, dài nhất trong lịch sử chống thực dân Pháp, kéo dài gần 30 năm (1884-1913). Dưới sự lãnh đạo của người anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám – vị thủ lĩnh áo nâu kiên trung – nghĩa quân Yên Thế cùng nhân dân địa phương và các sĩ phu yêu nước từ nhiều miền đất nước đã kiên cường chiến đấu, bất chấp hy sinh để giành lại độc lập, tự do. Đây là một trong những cuộc khởi nghĩa oanh liệt và bền bỉ nhất của dân tộc ta trước khi có Đảng lãnh đạo, trở thành niềm tự hào, là động lực để Đảng bộ và nhân dân xã Yên Thế hôm nay tiếp tục kế thừa, phát huy truyền thống anh hùng, xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.


 

Từ dấu ấn hào hùng ấy, tại Yên Thế đã hình thành quần thể di tích lịch sử Khởi nghĩa Yên Thế – di sản văn hóa vô giá được chính quyền và nhân dân gìn giữ, bảo tồn. Các địa danh gắn liền với cuộc khởi nghĩa là minh chứng sống động cho tinh thần quả cảm, ý chí bất khuất của nghĩa quân và người dân Yên Thế. Ngày 10/5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 548/QĐ-TTg xếp hạng “Những địa điểm Khởi nghĩa Yên Thế” là Di tích Quốc gia đặc biệt. Trong số đó, trên địa bàn xã Yên Thế ngày nay có 8 điểm tiêu biểu: Đồn Phồn Xương, Đồn Hố Chuối, Đồn Hom, Đền Thề, Chùa Lèo, Đình Dĩnh Thép, Chùa Thông, Đền Cầu Khoai. Đây là những “chứng nhân” lịch sử, phản ánh chân thực tinh thần chiến đấu ngoan cường của nghĩa quân Đề Thám và nhân dân Yên Thế.

Bước sang giai đoạn mới, Yên Thế không chỉ là vùng đất giàu truyền thống cách mạng mà còn có sự thay đổi lớn về tổ chức hành chính. Xã Yên Thế được thành lập từ ngày 01/7/2025 trên cơ sở sáp nhập 05 đơn vị hành chính: xã Tân Hiệp, xã Đồng Tâm, xã Đồng Lạc, xã Tân Sỏi và thị trấn Phồn Xương (huyện Yên Thế cũ) theo Nghị quyết số 1658/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Bắc Ninh năm 2025. Sau khi sắp xếp, xã Yên Thế có 50 thôn, bản, tổ dân phố.

Hàng năm, vào các ngày 15, 16, 17 tháng Ba dương lịch, tại Trung tâm Đại bản doanh – Đồn Phồn Xương, Lễ hội Yên Thế được long trọng tổ chức, tái hiện không khí hào hùng của cuộc khởi nghĩa. Đây là một trong hai lễ hội lịch sử lớn nhất của tỉnh Bắc Giang cũ (nay là tỉnh Bắc Ninh) cùng với Lễ hội Xương Giang, thu hút đông đảo du khách với nhiều hoạt động đặc sắc: thi võ vật cổ truyền, cờ vua, cờ người, bắn nỏ, kéo co, bóng chuyền, cầu lông, biểu diễn võ cổ truyền, cùng các trò chơi dân gian, hội diễn văn nghệ, thi trang phục dân tộc… Tất cả góp phần giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa, lịch sử và tinh thần quật cường của quê hương Yên Thế.

Ngày nay, đến với xã Yên Thế không chỉ là hành trình về với cội nguồn, tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng Hoa Thám, mà còn là dịp khám phá 8 địa điểm di tích quốc gia đặc biệt – những “địa chỉ đỏ” kết nối quá khứ oanh liệt với hiện tại đổi mới, để mỗi người dân thêm tự hào, trân trọng và chung tay gìn giữ những giá trị lịch sử của quê hương.

8 điểm di tích quốc gia đặc biệt

“Những địa điểm khởi nghĩa Yên Thế” trên quê hương Yên Thế

1. Đồn Phồn Xương


 

Trung tâm của khởi nghĩa Yên Thế là đồn Phồn Xương (nay thuộc xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh). Đồn được Hoàng Hoa Thám cho xây dựng năm 1892, trấn giữ con đường độc đạo đi vào căn cứ nghĩa quân. Trước đồn là một hồ nước để bảo vệ mặt tiền đồn. Phía sau đồn nay còn di tích doanh trại, chiến lũy của nghĩa quân. Gần đồn Phồn Xương có phố Bà Ba - trước kia chính là nơi ở của vợ ba Hoàng Hoa Thám - bà Đặng Thị Nho (còn gọi là bà Ba Cẩn) - cũng là một tướng tài của nghĩa quân. Nơi đây còn ngôi mộ của bà Hoàng Thị Thế, con gái của Hoàng Hoa Thám.

Đồn Phồn Xương được xem là “đại bản doanh” của nghĩa quân ngày ấy, nơi Hoàng Hoa Thám và các tướng lĩnh như: Cai Thanh, Cả Trọng thường xuyên lưu trú, hoạt động. Toàn bộ “Ban tham mưu” cùng lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa tập trung để điều hành, lãnh đạo nghĩa quân, tuyển chọn, luyện tập quân lính… Tại đây từng diễn ra nhiều hoạt động, sinh hoạt của nghĩa quân Yên Thế trong thời kỳ hoà hoãn lần thứ 2 (1897-1909) như: thổi cơm thi, đấu vật, làm bánh, cưỡi ngựa bắn cung và các đêm hát xướng vui nhộn thu hút đông đảo nhân dân trong vùng đến dự. Sử cũ chép rằng, khi về Yên Thế tiếp kiến Hoàng Hoa Thám, chí sĩ Phan Bội Châu đã ngỡ ngàng, thảng thốt trước đồn Phồn Xương và nói rằng: “... Tôi hai lần tới đồn, xem khắp chung quanh, trâu cày từng đội, chim rừng quyện người, đàn bà trẻ con nhởn nhơ tiếng chày rậm rịch, có cái vẻ vui của những ngày đình đám hội hè mà không hề có tiếng thở than về chính quyền bạo ngược và mãnh hổ hại người. Tạo lập được một thế giới riêng biệt, thực là một nỗ lực riêng của tướng quân”.

Đồn Phồn Xương được đắp trên một dải đồi nhỏ đối diện với khu Đền Thề. Đây là khu đồn chính của nghĩa quân và cũng là đại bản doanh của Hoàng Hoa Thám từ 1901 - 1909. Đồn rộng khoảng hơn một mẫu, ngoài bao bọc hai vòng lũy được đắp dựa theo vòng đất đồi, chỗ dày 80cm, cao 4m. Phía trong tường lũy có ba cấp để bắn ở ba tư thế đứng, quỳ, nằm. Trên thân tường lũy có trổ lỗ châu mai. Đồn có ba cổng: cổng chính hướng đông, cổng phụ ở hướng nam, hướng bắc đều thông vào rừng rậm xung quanh. Phía trong có ụ chắn trổ lỗ châu mai và có trạm gác. Căn cứ Phồn Xương là trung tâm chỉ đạo đường lối chiến lược chiến thuật và tổ chức sản xuất, chiến đấu của nghĩa quân do Đề Thám chỉ huy. Tại đây hàng năm đều được tổ chức lễ hội thu hút đông đảo nhân dân trong vùng và các bản làng lân cận tham gia. Với bản chất là ngày hội cầu mùa, tại lễ hội Hoàng Hoa Thám còn tổ chức thêm các hoạt động như lập đàn làm lễ cầu siêu cho các vong hồn tử trận của nghĩa quân và nhân dân trong vùng, làm lễ phóng ngư, thả điểu thể hiện tinh thần tự do độc lập của nghĩa quân. Ngày nay, lễ hội Phồn Xương được gắn liền với Lễ hội Yên Thế với nhiều hoạt động phát huy tinh thần thượng võ của cha ông và gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc.

2. Đền Thề

Vào khoảng những năm cuối thế kỷ XIX, Đề Thám cho tu sửa và xây dựng nhiều ngôi đình, ngôi chùa, ngôi đền làm nơi sinh hoạt văn hóa tôn giáo tín ngưỡng của nghĩa quân Yên Thế và nhân dân địa phương. Đền Thề là một trong số những di tích được xây dựng trong khoảng giai đoạn này.

Ngôi Đền tọa lạc trên một ngọn đồi ở phía trước cách đồn Phồn Xương không xa, khoảng 100 mét. Ban đầu, Đền được làm bằng tranh tre, khi xây đắp đồn Phồn Xương, Hoàng Hoa Thám đã cho xây dựng Đền mới bằng khung lim, lợp ngói, gồm tiền đường 3 gian 2 dĩ và hậu cung 2 gian. Những năm đình chiến lần thứ 2 (1901-1909), giữa Đề Thám với thực dân Pháp, Đề Thám đã tổ chức hội hè, rước sách, tế lễ ở Đền. Lễ cầu may được tổ chức từ ngày 10 đến 15 tháng giêng âm lịch. Đây là dịp Hoàng Hoa Thám thăm viếng các thân nhân tử sĩ của nghĩa quân. Trong ngày hội có lễ đền, thi bắn cung nỏ, bắn súng, săn thú, đua ngựa, vật, đánh cờ... và thi cỗ có giải. Lễ cầu siêu được tổ chức vào 15 tháng 7 âm lịch. Đề Thám cho mời các tăng ni tới làm lễ cho các tủ sĩ rất long trọng. Lễ tế cờ tổ chức vào tháng Tám âm lịch. Đề Thám đọc văn tế cờ bằng một bài văn vần, nói lên lòng căm thù giặc, quyết tâm đánh thực dân phong kiến cho đất nước thanh bình.

Đền Thề là nơi nghĩa quân cắt máu ăn thề làm lễ xuất quân đánh Pháp. Trong đền có tượng thủ lĩnh nghĩa quân Hoàng Hoa Thám. Phía sau đền Thề là Nhà trưng bày các hình ảnh và hiện vật của cuộc khởi nghĩa như súng kíp, đạn, gươm, mã tấu... cùng các đồ dùng sinh hoạt như mâm đồng, bình lọ, ấm, chén uống nước... của nghĩa quân. Trước sân nhà trưng bày là tượng đài lãnh tụ nghĩa quân Hoàng Hoa Thám và câu nói nổi tiếng của ông: "Chúng tôi gắn bó với phong tục của đất nước chúng tôi. Chúng tôi không bao giờ từ bỏ phong tục ấy dù có phải hy sinh cả tính mạng".

Ngày nay, Đền Thề là nơi tín ngưỡng tâm linh của nhân dân trong vùng và du khách thập phương. Nhân dịp các sự kiện trọng đại được tổ chức tại quê hương, các đồng chí lãnh đạo tỉnh, các ngành đoàn thể đều thắp hương tại Đền Thề. Các đoàn khách trong và ngoài nước khi về thăm khu dích lịch sử khởi nghĩa Yên Thế đều vào thắp hương tại Đền Thề cầu may mắn, bình an.

3. Chùa Lèo

Nằm trên một quả đồi, cạnh tuyến đường Quốc lộ 17 từ Nhã Nam đi Yên Thế. Chùa Lèo thuộc xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh (trước sáp nhập thuộc thị trấn Phồn Xương, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang) có địa thế u nhã, hữu tình, chính vì thế trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Hoàng Hoa Thám đã cho xây dựng ngôi chùa và thường xuyên trùng tu để làm căn cứ chiến đấu và cũng là địa điểm liên lạc của nghĩa quân. Nơi đây thực dân Pháp đã nhiều lần thua trận, vào ngày 26/11/1897 thực dân Pháp đã phải đề nghị hoà hoãn lần thứ hai với nghĩa quân Yên Thế. Tương truyền rằng: Trước hôm thoả thuận hoà ước, viên đại lý Pháp đến ngủ ở chùa Lèo, Đề Thám ngủ ở trong làng. Sau khi trăng lặn, khoảng nửa đêm trong rừng có những tiếng lao xao, chú ý lắm mới thấy mười hai tên lính lặng lẽ trèo qua cây rừng rậm rạp tiến về túp lều gỗ nơi Đề Thám đang nằm. Sớm hôm sau ở ngoài Chùa tất cả mọi người tề tựu đông đủ, mọi người nhìn nhau khắc khoải đợi chờ. Chẳng thấy dấu hiệu gì cho thấy Đề Thám bị ám hại, người ta đành chia nhau đi tìm. Trên bãi cỏ bên làng, dưới chân lô cốt đã thấy 12 xác lính được xếp nằm cạnh nhau, xác viên đội nằm ngoài cùng, 1 lưỡi dao cắm trên ngực cùng với tờ hoà ước, còn các xác khác bàn tay chắp lại ôm một mảnh gỗ có đề chữ ''phản''. Sau vụ này, Đề Thám đã cho dán khắp nơi bản tố cáo của nghĩa quân về sự phản bội của bọn giặc Pháp.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, chùa Lèo còn là nơi cứu chữa thương binh, là trụ sở uỷ ban hành chính kháng chiến. Cho đến kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chùa Lèo là cứ điểm phòng không bắn máy bay Mỹ. Với di tích lịch sử đó, chùa Lèo đã được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận xếp hạng di tích lịch sử văn hoá, nằm trong quần thể di tích lịch sử Hoàng Hoa Thám. Cứ vào ngày 15/3 dương lịch hàng năm, Đảng bộ và nhân dân thị trấn Phồn Xương (nay là xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh) lại nô nức tổ chức lễ hội với lễ dâng hương và các hoạt động văn hoá văn nghệ thể thao sôi nổi, như hội diễn văn nghệ quần chúng, hội trại thanh niên, thi chọi gà, cờ tướng, bóng đá, kéo co, võ vật,… Năm 2011, 2012, Chùa Lèo đã được đầu tư trên 3 tỷ đồng để cải tạo nâng cấp bằng nguồn vốn của nhà nước và nhân dân cùng làm. Trong công cuộc đổi mới của đất nước hiện nay, Đảng bộ và nhân dân xã Yên Thế (trước là thị trấn Phồn Xương, huyện Yên Thế, Bắc Giang) không ngừng phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, xứng đáng với mảnh đất đã đi vào lịch sử - Phồn Xương - Chùa Lèo - Hố Chuối - gắn liền với cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo.

4. Đền Cầu Khoai

Nằm cách trung tâm đồn Phồn Xương khoảng 2km về hướng tây bắc theo Quốc lộ 17 lên Mỏ Trạng là cụm di tích đền Cầu Khoai và chùa Hoài Âm (thuộc địa bàn xã Tân Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giangcũ  – nay thuộc xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh). Di tích đền Cầu Khoai còn được gọi là đền Cô, một cách gọi dân gian để tưởng nhớ tới người được thờ ở đền là Đàm Thị Dung Hoa và Đàm Thị Quế Hoa.

Theo gia phả họ Đàm và các tư liệu ở địa phương, Đàm Thị Dung Hoa (sinh năm 1507) và Đàm Thị Quế Hoa (sinh năm 1510) quê ở huyện Đông Ngàn, tỉnh Kinh Bắc. Hai cô là con gái của Đàm Thận Huy, vị quan lớn dưới triều Lê - Mạc (thế kỷ 16) đã có nhiều công lao với dân, với nước, được sử sách ghi nhận. Đàm Thận Huy có vợ cùng hai người con gái là Đàm Thị Dung Hoa và Đàm Thị Quế Hoa cùng 38 người làng Hương Mặc theo ông lên vùng Yên Thế, Bắc Giang (nay là xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh) chống lại nhà Mạc rồi mất ở thôn Cầu Khoai, xã Tân Hiệp, huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang (nay là xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh) được dân địa phương lập đền tôn thờ. Sau này, nhân dân địa phương dựng thêm một ngôi chùa phía sau đền thờ gọi là chùa Hoài Âm để cầu báo ân đức và lưu giữ tiếng thơm của hai cô con gái họ Đàm đã hy sinh ở vùng đất này.

Quần thể di tích đền Cầu Khoai hiện nay gồm các hạng mục công trình: Cổng đền, khuôn viên, khu đền chính và chùa Hoài Âm, tất cả tọa lạc trong khu đất rộng đẹp bên cạnh trục đường quốc lộ 17. Đền Cầu Khoai được xây dựng năm 1524 và đã được tu sửa qua nhiều giai đoạn. Ngôi đền hiện nay có bình đồ kiến trúc kiểu chữ đinh gồm tòa tiền tế và hậu cung. Kiến trúc vì mái đơn giản không chạm khắc cầu kỳ. Trong hậu cung bài trí tượng thờ hai Cô và các thị nữ hầu cận. Phía sau ngôi đền là chùa Hoài Âm được nhân dân địa phương xây dựng sau này với ý nghĩa cầu báo ân đức siêu thoát cho linh hồn hai cô con gái họ Đàm. Ngôi chùa có bình đồ kiến trúc hình chữ đinh gồm tòa tiền đường và tòa thượng điện. Phần kiến trúc gỗ, liên kết vì mái đơn giản không chạm khắc. Tòa thượng điện bài trí hệ thống tượng Phật đầy đủ.

Khu di tích đền Cầu Khoai không chỉ là nơi tôn thờ những nhân vật lịch sử có nhiều công lao với dân, với nước mà còn là nơi ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử gắn liền với cuộc khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Quần thể di tích còn nằm trong số đất đai do nghĩa quân Yên Thế cai quản trong thời kỳ khởi nghĩa, xung quanh khu vực đền là cả một hệ thống đồn lũy của nghĩa quân Yên Thế. Đền Cầu Khoai là một trong số nhiều điểm căn cứ của nghĩa quân Yên Thế trong thời kỳ khởi nghĩa. Cũng tại khu di tích này, nghĩa quân Yên Thế và thực dân Pháp đã nhiều phen ở thế giằng co rất quyết liệt, nghĩa quân tiêu diệt được nhiều sinh lực địch, tiêu biểu như trận đánh đồn Hom bên cạnh đền Cầu Khoai. Quần thể di tích đền Cầu Khoai - chùa Hoài Âm là trung tâm sinh hoạt văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng, nơi tổ chức lễ hội truyền thống của nhân dân địa phương. Lễ hội hàng năm được tổ chức vào các ngày 23, 24, 25 tháng Giêng âm lịch với nhiều nghi lễ và các trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc.

Với giá trị lịch sử văn hóa và là nơi ghi dấu sự kiện lịch sử của cuộc khởi nghĩa Yên Thế, khu di tích đền Cầu Khoai – xã Tân Hiệp, huyện Yên Thế, Bắc Giang (nay thuộc xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh) là một trong 23 điểm di tích khởi nghĩa Yên Thế ở Bắc Giang (nay là Bắc Ninh) đã được xếp hạng là di tích cấp quốc gia đặc biệt.

5. Đồn Hố Chuối

Đồn Hố Chuối hay còn gọi là “Đồn thần chết” nằm ở thung lũng Hố Chuối, thuộc thị trấn Phồn Xương, huyện Yên Thế, Bắc Giang (nay thuộc xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh), cách đồn Phồn Xương 2km về phía Đông Nam. Di tích này được xây dựng từ giai đoạn đầu của cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế (1887-1891). Sỡ dĩ mang tên Hố Chuối bởi đồn được xây dựng ở giữa một khu thung lũng lòng chảo đầy chuối rừng của vùng núi Hữu Thượng (nay thuộc xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh). Đây là một căn cứ quân sự quan trọng của nghĩa quân Đề Thám.
Hệ thống đồn được xây dựng khá kiên cố. Ngoài các hệ thống tường lũy bao quanh, nghĩa quân còn đào hoạt loạt hầm chông dày đặc. Đặc biệt, căn cứ lại được cây rừng che khuất khiến cho Đồn Hố Chuối trở thành một căn cứ địa bất khả xâm phạm. Chính vì thế mà tại đây, vào đầu những ngày cuối năm 1890 đầu năm 1891, nghĩa quân Yên Thế dưới sự chỉ huy của Hoàng Hoa Thám với lực lượng chỉ khoảng 150 người, đã liên tiếp đánh bại bốn cuộc tấn công lớn của thực dân Pháp do các tướng Gôđanh, Tannơ, Mayơ rồi Phơrây chỉ huy cùng với 2.212 binh lính trang bị vũ khí hiện đại (gồm cả bộ binh, công binh và pháo binh). Như vậy, nghĩa quân đã phải chiến đấu 1 chọi với gần 15 địch và đã chiến thắng oanh liệt trong 4 cuộc tấn công của Pháp vào đồn Hố Chuối 73 lính Pháp đã bị thương cùng với 26 tên đã vĩnh viễn nằm lại núi rừng Yên Thế.

Tinh thần chiến đấu dũng cảm của nghĩa quân, tài chỉ huy quân sự của tướng lĩnh cộng thêm sự phòng thủ kiên cố đã làm cho Hố Chuối trở thành một căn cứ vững chắc khiến cho kẻ thù khiếp đảm và phải thú nhận “Cái đồn lũy này quả xứng đáng với cái tên Đồn của thần chết mà nhân dân địa phương đã đặt cho”.
Năm 2013, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và UBND tỉnh Bắc Giang đã lựa chọn đồn Hố Chuối là điểm tổ chức phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Quý Tỵ năm 2013, Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang đã tới dự phát động và trồng cây tại buổi lễ, để tạo cho đồn có phong cảnh rừng núi rậm rạp trở lại như ngày xưa. Tuy nhiên, những kiến trúc của đồn Hố Chuối như: Thành luỹ và những pháo đài ở các góc; Thành đắp hình chữ nhật chất liệu bằng đất lẫn đá và những lỗ châu mai; hệ thống giao thông hào chằng chịt đã không còn giữ được hiện trạng. Do vậy, điểm di tích này cần được các nhà quản lý duy tu và bảo tồn, để Hố Chuối giữ được những nét vốn có của mình và mãi xứng đáng với cái tên “Đồn thần chết”.

6. Đồn Hom

Sau những thất bại liên tiếp ở căn cứ Hố Chuối, thực dân Pháp tiếp tục mở một đợt chiến dịch càn quét lớn vào các căn cứ của nghĩa quân Yên Thế do tướng Voa-rông chỉ huy vào tháng 3/1892. Một lần nữa, nghĩa quân lại làm thất bại mưu đồ của kẻ địch, ghi tiếp những chiến công giòn giã trên các căn cứ chiến đấu. Một trong số những chiến thắng vang dội này xảy ra ở căn cứ đồn Hom, xã Tân Hiệp (nay là xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh).

Căn cứ đồn Hom gồm có một đồn chính và ba đồn phụ ở ba phía xây dựng trên bốn ngọn núi cao hiểm trở trong dãy Cai Kinh, xã Tân Hiệp (nay thuộc xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh). Đồn chính do Đề Dương (tên của Đề Thám khi đó) trực tiếp chỉ huy nằm trên một ngọn đồi cao khoảng 30m về phía đông. Doanh trại trong đồn được che chở bởi cây rừng rậm rạp. Xung quanh là dãy hào sâu bao bọc. Từng đoạn hào có đào những hàm ếch làm thành các ổ chiến đấu. Từ trong hào lũy có thể quan sát được các vị trí xung quanh và phát huy hỏa lực ở mọi phía. Ba đồn phụ ở ba phía. Tất cả tạo thành cụm chiến đấu hình bốn cạnh bao kín lấy làng Hom và khu đồng lầy thụt.

Đúng 12 giờ 30 phút ngày 25/3/1892, tên thiếu tá Hăng-ri tập trung hai khẩu đại bác nã đạn vào khu đồn Hom mở đường cho 180 lính vừa Pháp, vừa khố đỏ tấn công. Để cho những tên cuối cùng của đạo quân vào lọt trong khu đồng Hom, nghĩa quân mới từ bốn phía nhất tề nổ súng. Kẻ địch hết sức lúng túng, không biết đường nào mà tránh. Thật như một chiếc hom giỏ, vào thì dễ mà ra thì khó. Quân địch tiến lên không được mà rút lui để phòng thủ cũng không xong. Hơn nữa, cánh đồng lại lầy thụt khiến cho xác giặc nằm ngổn ngang, không sao mang đi được. Kẻ địch vẫn không tiến lên được, phải chịu rút quân.

Chiến thắng vang dội trên đã chứng minh chiến công oanh liệt mà nghĩa quân đã giành được tại căn cứ làng Hom; đồng thời thấy rõ tài năng quân sự của người thủ lĩnh nghĩa quân Đề Thám đã biết nhử địch vào nơi hiểm yếu để tiêu diệt, giành thắng lợi ngay từ phút đầu, trận đầu. Và cũng từ sau chiến thắng này, theo lời bọn thực dân Pháp thừa nhận, đã đưa “uy danh của Đề Thám thêm lừng lẫy hơn bao giờ hết” (Pôn-Sác).

7. Đình Dĩnh Thép

Trong cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế chống thực dân Pháp do Hoàng Hoa Thám chỉ huy, đình Dĩnh thép, xã Tân Hiệp (nay là xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh) là nơi nghĩa quân Yên Thế hội quân lớn đã bầu ra các tướng lĩnh vào những năm 1889-1913. Do đó, nơi đây trong lịch sử Yên Thế đã trở thành nơi ghi dấu một sự kiện quan trọng của phong trào khởi nghĩa Yên Thế và đã được UBND tỉnh công nhận di tích lịch sử văn hóa. Đình Dĩnh Thép còn là một trong số 9 điểm di tích cuộc khởi nghĩa Yên Thế được công nhận là di tích cấp Quốc gia đặc biệt.

Giá trị nổi bật nhất của di tích đình Dĩnh Thép là nơi diễn ra Hội nghị ghi dấu thời điểm củng cố lại tổ chức của nghĩa quân Yên Thế: Năm 1888, Hoàng Đình Kinh (Cai Kinh) sa vào tay giặc Pháp và bị xử tử, cuộc khởi nghĩa của phong trào Bãi Sậy và một số sĩ phu yêu nước bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội. Yên Thế trở thành trung tâm thu hút của các cánh quân còn sót lại cùng hợp sức đánh Pháp. Thời điểm này rất cần củng cố lại phong trào sau những năm chống Pháp và hoạch định lại kế hoạch lâu dài cho cuộc khởi nghĩa Yên Thế. Giữa lúc đó, một Hội nghị quan trọng đã diễn ra tại đình Dĩnh Thép. Hội nghị được triệu tập vào ngày rằm tháng bảy năm Mậu Tý - tức ngày 22/8/1888. Toàn bộ các thủ lĩnh đã tập trung về đình Dĩnh Thép để dự họp. Hội nghị đã cử ra một Bộ chỉ huy thống nhất, nhận định địa bàn hoạt động. Bộ chỉ huy gồm có: Bá Phức làm tổng thống quân vụ, tức Chánh tướng; Đề Nắm làm tả dực tướng quân, tức Phó tướng, phụ trách hậu cần. Đề Thám làm hữu dực tướng quân, tức Phó tướng chỉ huy tiền quân. Kết quả đó đã đem lại niềm tin lớn cho phong trào. Dân làng Dĩnh Thép và các làng lân cận đã chung nhau mổ bò, giết trâu, giết lợn... gánh đến chào mừng.

Đình Dĩnh Thép còn là nơi giặc Pháp phải giao nộp 15.000 frăng cho Đề Thám để đổi lấy hai tù nhân: Năm 1894, Đề Thám cho bắt tên chủ đồn điền Sẹt-nay và Lô-gi-u buộc chúng phải bỏ tiền ra chuộc tại đình Dĩnh Thép. Sau đó cuộc thương thuyết giữa Đề Thám và Pháp thông qua giám mục Bắc Ninh là cha Vê-lat-cô, hai tù nhân Pháp được Đề Thám trao trả.

Đình Dĩnh Thép được xây dựng từ lâu đời và đã được tu sửa, tôn tạo qua nhiều giai đoạn. Năm 1907, Hoàng Hoa Thám đã cho tu sửa, tôn tạo ngôi đình nhằm bảo tồn giá trị văn hoá cổ của di tích. Di tích hiện nay được tu sửa tôn tạo khang trang gồm ba gian hai chái toà tiền đình nối hậu cung hai gian tạo bình đồ kiến trúc kiểu chữ đinh. Các vì mái liên kết đơn giản kiểu vì kèo cánh báng các cấu kiện kiến trúc không chạm khắc. Trong đình thờ thần Cao Sơn, Quý Minh, Minh Giang Đô Thống, thờ Hoàng Hoa Thám và nghĩa quân Yên Thế tử trận, họ đã có nhiều công lao với dân với nước. Đình còn bảo lưu được một số đồ thờ tự có giá trị và ba tấm bia đá thời Nguyễn có nội dung ghi về việc công đức tu sửa đình.

Đình Dĩnh Thép là nơi diễn ra nhiều sự kiện lịch sử chính trị gắn liền với cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân địa phương. Từ xưa tới nay đình Dĩnh Thép còn là trung tâm sinh hoạt văn hoá tín ngưỡng, nơi tổ chức lễ hội truyền thống của nhân dân, lễ hội diễn ra ngày 6 tháng Giêng âm lịch và ngày 16 tháng 3 dương lịch với nhiều trò chơi dân gian thể hiện tinh thần thượng võ, khát vọng tự do của người dân Yên Thế như hội thi thả chim, hội thi cưỡi ngựa bắn cung, bắn nỏ, đấu võ dân tộc, đấu vật...

Do có ý nghĩa quan trọng như vậy, nhân kỷ niệm 130 năm Lễ hội khởi nghĩa Yên Thế, huyện Yên Thế (cũ) đã xã hội hóa và bằng những tấm lòng hảo tâm của các tổ chức, cá nhân ủng hộ bằng tiền, vật chất đúc tượng đồng anh hùng Hoàng Hoa Thám và bức tượng cũ được chuyển đặt vị trí uy nghiêm tại Đình Dĩnh Thép. Việc giữ gìn và phát huy các giá trị của di tích lịch sử đình Dĩnh Thép là vô cùng cần thiết. Điều này đòi hỏi chính quyền và các cơ quan chuyên môn, ngành chức năng từ trung ương đến địa phương cần thường xuyên quan tâm duy tu, bảo dưỡng di tích; đồng thời tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến nhân dân các dân tộc địa phương về những giá trị của di tích này.

8. Chùa Thông

Chùa Thông thuộc xã Đồng Lạc, huyện Yên Thế, Bắc Giang (nay thuộc xã Yên Thế, tỉnh Bắc Ninh), là 1 trong 9 địa điểm được công nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia đặc biệt. Bởi chính ngôi chùa này là nơi nghĩa quân Yên Thế và thực dân Pháp họp bàn ký hòa hoãn lần thứ nhất (1894-1897). Trong gần 30 năm lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế, Hoàng Hoa Thám đã tổ chức đánh nhiều trận tiêu biểu là các trận ở thung lũng Hố Chuối, Đồn Hom. Ông đã dùng nhiều chiến thuật du kích tài tình đã tránh được mũi nhọn của quân Pháp và đã gây cho họ những tổn thất nặng nề. Nghĩa quân Yên Thế đã trừng trị những kẻ phản bội như Đề Sặt. Nhận thấy chưa thể dập tắt được phong trào Yên Thế nên vào năm 1894, Pháp đã yêu cầu giảng hòa, cắt nhượng cho nghĩa quân bốn tổng là Mục Sơn, Yên Lễ, Nhã Nam, Hữu Thượng... thuộc Yên Thế. Hoàng Hoa Thám cũng muốn tranh thủ thời gian để chuẩn bị thêm lực lượng nên ông đồng ý hòa hoãn. Chùa Thông chính là nơi mà nghĩa quân chọn làm nơi bàn bạc, hòa hoãn với thực dân Pháp. Nhưng chỉ vài tháng sau (10/1895), Pháp đã bội ước, huy động lực lượng mở các cuộc tấn công trên quy mô lớn vào Yên Thế. Tuy nhiên, lần ra quân này của Pháp cũng không đàn áp được nghĩa quân Yên Thế mà Pháp phải yêu cầu giảng hòa lần 2 vào năm 1987. Trong thời gian hòa hoãn, nghĩa quân Yên Thế đã có những bước phát triển mới, địa bàn hoạt động được mở rộng từ trung du đến đồng bằng.

Với những giá trị lịch sử như vậy, hàng năm cứ vào ngày 14/3 dương lịch, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc xã Đồng Lạc (cũ), nay là xã Yên Thế (tỉnh Bắc Ninh) lại tưng bừng tổ chức lễ hội, thắp những nén hương thơm để tưởng nhớ đến công lao to lớn của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ thể thao sôi nổi thu hút đông đảo du khách trong vùng và các vùng lân cận về dự hội./.